Go to Top

Metroid – The Series

Lịch sử hình thành

Thập niên 80, sau những khó khăn ban đầu khi gặp phải sự cạnh tranh từ Sega và Atari, hệ máy Famicom của Nintendo đã thực sự thống trị thị trường máy chơi game.

The legend of Zelda là game đầu tiên phát hành trên hệ máy Famicom. Game đã gây tiếng vang lớn khi giới thiệu đến người chơi một thế giới rộng lớn với vô số căn phòng cũng như hang động để khám phá. Tuy nhiên những game về bóng chày và gofl sau đó thì lại không tạo nên được hiệu quả như nhà sản xuất mong đợi. Lúc này Nintendo cần một tựa game mới để tăng thêm sức mạnh cho Famicom. Trong khi đó, thiên tài Shigeru Miyamoto lại đang bận phát triển Super Mario Bros. Thế là trọng trách tạo ra một huyền thọai mới được giao cho nhóm R&D1 với sự lãnh đạo của Gunpei Yokoi, người cố vấn cũ của Miyamoto.

Yokoi đã chọn ra 3 người để thực hiện nhiệm vụ. Makoto Kanoh sáng tạo nhân vật và cốt truyện. Hiroji Kiyotake thiết kế nhân vật. Yoshio Sakamoto đạo diễn. Game mới sẽ theo thể lọai bắn súng. Nó sẽ là sự kết hợp yếu tố flatform của Mario, cách chơi phi tuyến tính của Zelda và thêm vào đó một nhân tố mới: vũ trụ.

Ngày 6 tháng 8 năm 1986, Metroid ra đời. Trái ngược với thế giới rực rỡ, tươi sáng của Zelda và Mario, Metroid mang lại cho người chơi một không gian đầy rẫy sinh vật ngòai hành tinh cùng những công nghệ tối tân. Và một huyền thọai mới đã bắt đầu như thế…

Qua thời gian Metroid đã trở thành một tên tuổi lớn. Đến tháng 8 năm 2007, 10 game thuộc seri Metroid đã được phát hành. Trong đó bao gồm 4 game thuộc thể loại 2D (Metroid, Metroid II: Return of Samus, Super Metroid, và Metroid Fusion ), 1 game được remake từ Metroid (Metroid: Zero mission), 2 game cho Nintendo DS (Metroid Prime Pinball, Metroid Prime Hunters), và 1 bộ 3 Metroid Prime cho máy console.

——————————Game-play

Xuyên suốt dòng game Metroid, người chơi sẽ phải điều khiển Samus thu thập items để nâng cấp súng cũng như áo giáp và để có thể vượt qua được những chướng ngại vật . Có nhiều items thường xuất hiện trong game như Morph Ball – nó sẽ làm cho Samus biến thành 1 quả bóng nhỏ, giúp cô ấy dễ dàng đi xuyên qua những khu vực chật hẹp và nó cũng có chức năng khác là đặt bom.

Những kẻ thù trong seri Metroid được chia làm 2 nhóm chính: boss và final boss. Mỗi game đều có những con boss khác nhau, mà người chơi thường gặp sau khi bước vào 1 căn phòng lớn bị khoá. Người chơi sẽ phải chiến đấu chống lại những sinh vật khổng lồ. Khi thành công, bạn sẽ nhận được 1 item nào đó và căn phòng sẽ mở ra, cho phép người tiếp tục cuộc hành trình xa hơn. Còn những con final boss, người chơi chỉ có thể gặp khi đã đến cuối game.Người chơi cũng phải chiến đấu chống lại những con final boss này như đã từng làm với bọn boss thường, chỉ có 1 điều khác là khi tiêu diệt được nó nghĩa là bạn đã hoàn thành game.

Trong Metroid và Super Metroid, Kraid và Ridley xuất hiện như những con boss và Mother Brain xuất hiện như final boss. Những trận đấu boss và final boss đều có 1 tiêu chuẩn nhất định, tuy nhiên cũng có 1 số trường hợp ngoại lệ.

Dòng Metroid Prime là 1 sự đột phá về gameplay: người chơi sẽ bắn với góc nhìn thứ nhất, đồng thời game vẫn giữ lối chơi khám phá và thu nhặt item từ những seri 2D trước đó. Một lí do nữa đó là trong những seri Prime này, bạn sẽ có thể scan những sinh vật cũng như vật thể để lấy được thêm thông tin về chúng.

——————————
Hệ thống nhân vật

Samus Aran

Là nhân vật chính của dòng game, quá khứ của Samus vẫn còn rất nhiều bí ẩn. Qua mỗi phiên bản thời thơ ấu của cô lại được hé lộ một chút. Samus có một tuổi thơ không mấy tốt đẹp khi bị mồ côi cà cha lẫn mẹ từ nhỏ. Người gây ra điều này là Ridley. Sau đó cô được người Chozo cưu mang.

Samus trở thành chiến binh hùng mạnh của Galactic Federation. Cô mặc một bộ trang phục đặc biệt được thiết kế bởi tộc Chozo tiên tiến. Trên con đường thực hiện những nhiệm vụ của Galactic Federation, Samus không quên lần theo kẻ thù của gia đình.

Nhân vật Samus Aran thực sự là một đột phá, một bất ngờ lớn của Nintendo. Ở phiên bản đầu tiên Metroid năm 1986, trong suốt quá trình chơi, người chơi chỉ nhìn thấy Samus qua bộ giáp kín từ đầu đến chân. Trông Samus lúc đó không khác gì những nam anh hùng mạnh mẽ. Sự mập mờ về giới tính của Samus dường như cũng là chủ ý của Nintendo. Điều này đã khiến không ít người lầm tưởng về Samus. Mọi việc chỉ rõ ràng khi người chơi hòan thành game đúng cách.

Metroid có tất cả 5 kết thúc khác nhau dựa vào thời gian hòan thành game của người chơi. Trong đó chỉ có 3 kết thúc là người chơi sẽ được thấy cảnh Samus gỡ bỏ bộ giáp năng nề của mình, xõa mái tóc dài của mình xuống và duyên dáng trong trang phục bó sát người màu tím. Bí mật này đã thực sự khiến người chơi đi từ shock đến thích thú.

Việc tạo dựng hình ảnh Samus là nữ trong khi các game thời đó thường lấy nam giới làm anh hùng xuất phát từ ý tưởng của một nhân viên. “Chúng tôi đang thực hiện gần xong việc phát triển,” Sakamoto kể lại, “thì một người trong nhóm nói Này, chẳng phải là rất tuyệt nếu chúng ta chuyển người trong bộ giáp thành nữ sao.” Một cuộc bỏ phiếu nhỏ đã diễn ra. Và Samus chính thức là phụ nữ.

—–Những trang bị của Samus

Power Suits: bộ trang phục đặc biệt được người Chozo thiết kế. Đây là bộ giáp cơ bản. Nó được thiết kế có khả năng nâng cấp khi áp dụng những kỹ thuật tiên tiến hơn. Có rất nhiều mẫu Power Suit khác nhau mang lại những khả năng khác nhau cho Samus đồng thời bảo vệ cô khỏi các kiểu khí quyển khác nhau của các hành tinh như khí độc, nhiệt độ cao hay cho phép Samus di chuyển dười nước. Có thể kể đến một vài mẫu như Varia Suit, Gravity Suit, Phazon Suit, Dark Suit, Light Suit, Fusion Suit và Zero Suit.

Beam Weapons: đây là vũ khí chính của Samus, nói nôm na là các lọai đạn bắn ra từ cây súng trên tay phải Samus. Cũng như các bộ giáp, Power Beam là cơ bản. Nó không giới hạn lượng đạn nhưng bù lại Power Beam có sức công phá yếu nhất trong tất cả. Đương nhiên bạn có thể nâng cấp để có thêm các lọai đạn khác như: Ice Beam, Spazer, Light Beam, Dark Beam, Plasma Beam và Phazon Beam.

Missile Weapons: một vũ khí có sức công phá mạnh cũng được phóng ra từ tay phải của Samus. Như một đối trọng cho sức mạnh của lọai vũ khí này, số lượng của chúng vô cùng giới hạn. Người chơi phải nâng cấp để có đựơc chúng.

Morph Ball: thực chất đây là biến thể của bộ giáp mà Samus mặc trên người. Khi ở dạng này, tòan cơ thể Samus sẽ cuộn tròn lại không khác gì một quả bóng. Nó giúp cô có thể di chuyển qua những chỗ đặc biệt mà không thể nào đi nổi nếu ở hình dạng người. Tuy giống một quả bóng nhưng Samus vẫn có thể nhảy (Spring Ball) cũng như tăng tốc (Boost Ball), đôi khi còn có thể bám dính trên tường (Spider Ball). Ngòai ra, một khả năng đặc biệt chỉ được kích họat khi Samus ở trạng thái này chính là “đặt bom”. Đương nhiên sức công phá của những quả bom này là rất lớn.

Visors: chính là bộ phận trên mũ giáp của Samus. Cô sử dụng khá nhiều lọai Visor khác nhau để nhìn (đương nhiên) và tương tác với môi trường. Lọai kính chắn thông dụng và được sử dụng nhiều nhất là Combat Visor. Chức năng của chúng cũng khác nhau như Scan Visor cho phép Samus thu thập thông tin; Thermal Visor giúp cô truy tìm dấu vết kẻ thù, vật thể nhờ vào nhiệt độ; X-ray Visor thì lại là khả năng nhìn xuyên một số chất liệu, phát hiện những nơi ẩn, nhìn trong chỗ tối; Echo Visor mang lại khả năng định vị bằng tiếng vang; Dark Visor cho phép Samus nhìn thấy hai thế giới Sáng và Tối ở hành tinh Aether.

Những nâng cấp khác: ngòai những nâng cấp chính như trên thì game còn đem đến cho người chơi hàng lọat nâng cấp khác vô cùng phong phú. Chẳng hạn như những cú nhảy của Samus có thể đạt tới độ cao khác nhau thì nhảy 2 hay 3 bước trên không hoặc High Jump Boots; Energy Tanks đem lại cho Samus sinh mạng dài hơn; Reserve Tanks tự động bơm máu khi sinh lực Samus giảm xuống 0 và Speed Booster nâng cấp khả năng chạy tốc độ cho cô.

Space Pirates
Đối thủ chính trong những game 2D Metroid, Space Pirates là 1 nhóm thù địch gồm những “cư dân giữa các vì sao” mà nói chính xác thì chúng là bọn côn trùng có hình dáng giống người. Bọn chúng chuyên đi cướp bóc các vùng đất và các phi thuyền. Mỗi Pirate đều có 1 đăc điểm khác biệt so với các cá thể khác cùng loài. Những ngừơi lãnh đạo chính là Ridley, Space Pirate commander, Mother Brain. Space pirates rất thích thú việc nghiên cứu Metroid, đặc biệt trong việc sử dụng Metroids để phục hồi năng lượng và để thí nghiệm. Những cuộc thí nghiệm của họ đã làm sản xuất ra nhiều biến thể Metroid khác nhau.

Ridley

Một Space Pirate khát máu có địa vị cao, và là 1 trong những đối thủ chính của Samus. Ridley có hình dạng của thằn lằn bay và rồng châu âu huyền thoại. Ridley là người lãnh đạo Space Pirate tấn công quê nhà của Samus, mà đó chắc chắn là nguyên nhân chính dẫn đến cái chết của cha và mẹ của Samus. Samus có mối thù truyền kiếp chống lại Ridley là cũng vì nguyên nhân này, và điều này cũng đồng nghĩa với việc Samus gíup ngân hà thóat khỏi Space Pirates dưới sự lãnh đạo tàn khốc của Ridley. Không ai biết hắn có phải là lãnh đạo chính của Space Pirates, hay chính hắn lại nhận mệnh lệnh từ 1 ai đó khác.

Lần đầu tiên xuất hiện trong Metroid nguyên bản và bị Samus tiêu diệt, nhưng Ridley luôn được các Pirates khác hồi sinh lại. Những phiên bản gần đây Ridley có được nhiều năng lực hơn như những vũ khí đầy sức mạnh, hệ thống tên lửa, và 1 đôi cánh nguy hiểm. Hình dạng này của Ridley gọi là Meta Ridley, từng xuất hiện trong Metroid Prime và Metroid Prime 3. Trong Metroid Prime 3, Meta Ridley trở lại vì trận chiến thứ 2 nên có tên là Omega Ridley, với khả năng bắn ra chất độc Phazon, cũng như những kĩ thuật mới.

Không giống những con boss khác trong seri, Ridley không thường có 1 chiến thuật đặc biệt gì để tiêu diệt đối thủ. Từ Super Metroid, những trận chiến chống lại hắn đều yêu cầu người chơi phải tránh né những cú vồ , cùng với những cái đập đuôi và hơi thở bốc lửa nguy hiểm của hắn. Điều này đã làm cho hắn luôn là 1 thử thách khó khăn cho mọi người chơi.

Kraid

Kraid là 1 con monster có hình dạng của 1 con khủng long khổng lồ, hắn là đồng minh của Space Pirates. Lần đầu tiên xuất hiện trong Metroid nguyên bản, hắn ta là phần đầu tiên của con boss nhỏ cùng với Ridley. Không ai biết trong Space Pirates hắn có địa vị thế nào. Kraid là nhân vật lớn nhất trong seri với chiều cao khoảng 40- 50 feet (12 – 15 mét) . Hắn có cái miệng cá sấu dài với 3 con mắt đỏ. Cánh tay ốm dài, 2 ngón tay đều được trang bị móng vuốt để có thể ném và thu lại nhanh chóng, ngoài ra cái bụng của hắn còn có khả năng bắn gai về phía kẻ thù. Với bộ da cứng cáp nên Kraid chỉ có thể bị thương khi bị bắn vào miệng (lúc hắn ta gầm). Mặc dù biết điểm yếu này của mình nhưng hắn vẫn sẽ gầm khi bị người chơi bắn vào những con mắt .

Hình dạng của Kraid trong Metroid khác hơn nhiều so với hình dạng sau này. Trong Super Metroid, hắn xuất hiện với hình dạng khổng lồ, cao 2 màn hình và thậm chí chiếm gần hết cả chiều rộng. Metroid : Zero Mission đã thay đổi kích cỡ và hình dạng của Kraid, làm cho hắn có vẽ như không tăng trưởng gì qua nhiều phiên bản. Trong Super Smash Bros : Melee, Kraid xuất hiện như 1 phần thưởng sau khi bạn đã tiêu diệt được tên Space Pirate đột biến. Kraid cũng từng xuất hiện trong Metroid Prime như 1 con boss ở Phazon Mines, với 1 miếng kim loại hình cầu bao phủ cái đầu và Phazon xanh đã xâm nhập vào bụng của hắn.

Galactic Federation
Galactic Federation là 1 liên bang cai trị toàn bộ dãi ngân hà. Nó được hình thành từ sự di cư lớn của các sinh vật không gian, điều này kéo theo khoa học kĩ thuật của tổ chức này ngày càng tiến bộ. Họ thường giao cho Samus những nhiệm vụ lớn để hoàn thành, và nhắm đến việc tiêu diệt hoàn toàn Space Pirates.

Samus từng là 1 chiến binh của liên bang trước khi trở thành thợ săn như sau này. Từ sau cái chết của vị sĩ quan Adam Malkovich, cô ấy mới ra đi. Samus luôn rất tôn trọng Adam, anh ấy vì cứu Samus mà đã hi sinh trong khi làm nhiệm vụ.

Những chiến binh của Galatic Federation cũng sử dụng loại áo giáp như Samus, nhưng chúng lại yếu hơn nhiều. Quân đội của họ thường được trang bị những loại vũ khí cơ bản, đôi khi cũng được trang bị những máy móc bắn Phazon.

Chozo

Chozo là 1 sinh vật 2 chân có hình dạng của loài chim. Nó luôn che chở Samus Aran . Xuyên suốt seri Metroid chúng đựơc khắc hoạ với vẻ ngoài già dặn và hơi hớm của sự huyền bí. Không ai biết nguồn gốc và tuổi đời của chủng tộc Chozo, mặc dù chúng sống ở khắp nơi trong vũ trụ Metroid, nhưng ko ai từng thấy sự tồn tại của chúng cả. Chozo đặc biệt rất thông minh. Kiến thức của chúng luôn được di truyền lại cho những thế hệ sau, bao gồm Luminoth of Aether, Reptilici of Bryyo, Elysians of Elysia (những con robot có khả năng tự xây dựng chính mình), và nhiều sinh vật khác chưa được biết đến.

Trong những phiên bản game của Nhật, Chozo được xác định là thuộc giống người chim. Với hình dáng nữa người nữa quạ, mà thường được miêu tả như là 1 chiến binh có sức mạnh siêu nhiên.

Trong Super Metroid, 1 vài chủng tộc Chozo đã tấn công Samus. Những con boss này gọi là Torizos. Những con Torizos này thật ra đã bị Pirates đánh lừa. Chúng thậm chí không biết tại sao phải tấn công Samus.

Trong Metroid Prime, ở 1 vài khu vực đôi khi những bóng ma Chozo cũng xuất hiện và tấn công Samus. Mặc dù là 1 đồng minh, nhưng do hành tinh của họ bị sự phá hoại của Phazon, nên họ đã không còn nhận biết được đâu là bạn đâu là thù.

Metroids

Metroids là những sinh vật gồm 4 tế bào có hình dạng của nhũng con sứa lớn. Chúng có thể hút nguồn năng lượng sống từ những sinh vật khác, điều này làm cho nạn nhân của chúng thường dẫn tới cái chết . Những con Metroid sẽ dùng nguồn năng lượng này để nuôi sống bản thân.

Trong Metroid Prime, người chơi sẽ được chiêm ngưỡng những loại Metroid mới, những sinh vật bị nhiễm độc Phazon như : Hunter Metroid và Fission Metroid . Hunter Metroid là những sinh vật có khả năng hút năng lượng bằng những cái vòi dài . Còn Fission Metroids là những sinh vật có khả năng tự nhân đôi mình lên sau khi hút được năng lượng.

Trong Metroid Prime 2 : Echoes, Tallon Metroid là 1 dòng Metroid bị nhiễm chất độc Phazon, thay vì phải hút năng lượng từ những sinh vật khác thì chúng lại có khả năng dùng Phazon để nuôi sống chính bản thân .Chúng được sinh ra trong những cái kén và bước vào giai đoạn trưởng thành sau khi hấp thụ Phazon. Bên cạnh đó game cũng có giới thiệu tới người chơi Dark Tallon Metroids.

Có 3 dạng Metroid từng xuất hiện trong Metroid Prime 3 : Corruption là: Phazon Metroid, Hopping Metroid và Metroid Hatcher. Phazon Metroid thật chất là những con Metroid thông thường nhưng chúng lại có khả năng dịch chuyển ra vào khoảng không gian. Hopping Metroid tuy không thể bay lượn, dịch chuyển ra ngoài không gian hay hút năng lượng được nhưng chúng lại có thể sử dụng móng vuốt để cận chiến và áo giáp để phòng thủ. Còn Metroid Hatcher là 1 con boss có khả năng trôi nổi và sinh sản ra Phazon Metroids, nhưng không thể di chuyển ra ngoài không gian.

——————————
Sự thay đổi trong cách kể chuyện

Lối kể chuyện của seri Metroid đã có nhiều sự thay đổi qua thời gian. Trong khi Metroid nguyên bản không chú ý gì từ lối kể chuyện đến phần hướng dẫn cũng như cách kết thúc, thì trong Super Metroid đã có những thay đổi đáng kể (câu chuyện được thuật lại qua lời kể của Samus).Với việc phát hành Metroid Prime và Metroid Fusion, Nhà phát hành đã thêm vào đó nhiều tình tiết hơn, mặc dù chúng cũng không khác biệt gì lắm về phương pháp.Cả 2 game này đều có sử dụng những đoạn cắt cảnh , những đoạn hội thoại và cả những lời kể chuyện. Đặc biệt Prime còn cho phép Samus dùng Scan Visor để lấy thêm thông tin. Metroid Prime 3: Corruption là game đầu tiên thuộc seri Metroid sử dụng giọng nói để kể chuyện.

——————————
Speedrunning

Metroid luôn là 1 mục tiêu quen thuộc cho speedrunning, nghệ thuật hòan thành game ở thời gian nhanh nhất có thể. Thêm vào đó thiết kế level phi tuyến tính cho phép người chơi có nhiều cách để kết thúc game. Game Metroid đã cho hiển thị những item thu thập và thời gian hòan thành game để khuyến khích việc speedrunning. Speedrunning được khuyến khích bởi vì thời gian hòan thành game chính là nhân tố chính để người chơi có thể thấy được những kiểu kết thúc khác nhau. Chẳng hạn hòan thành game với thời gian ngắn, người chơi sẽ có cơ hội thấy Samus không mặc bộ áo giáp.

Để kết thúc game nhanh, những Speedrunner phải tận dụng hết những bug và bí mật của game để có thể đi tắt. Có khá nhiều lối đi tắt trong game, có 1 số lỗi ko chủ đích như “Mockball” và những lỗi có mục đích của người phát triển như nhảy tường và “shinespark” (chạy nhanh rồi cuối xuống, cho phép bạn nhảy đặc biệt cao), chúng rất hữu dụng để di chuyển nhanh hơn bình thường.

——————————Nhạc sĩ

Seri Metroid đã có rất nhiều bài nhạc và nhiều nhà sọan nhạc cùng với thời gian:

Hirokazu ‘Hip’ Tanaka – Metroid

Ryohji Yoshitomi – Metroid II: Return of Samus

Kenji Yamamoto – Super Metroid, Metroid Prime, Metroid: Zero Mission, Metroid Prime 2: Echoes, Metroid Prime 3: Corruption

Minako Hamano – Super Metroid, Metroid Fusion, Metroid: Zero Mission, Metroid Prime 3: Corruption

Kouchi Kyouma – Metroid Prime

Akira Fujiwara – Metroid Fusion

Masaru Tajima – Metroid Prime 3: Corruption

Lawrence Schwedler – Metroid Prime Hunters

James Phillipsen – Metroid Prime Hunters

Bên cạnh những cái tên này chúng ta cũng nên biết đến Tommy Tallarico, anh ấy là người đã đóng góp nhiều cho những bản soundtrack của Metroid Prime và Metroid Prime 2: Echoes, mặc dù những sản phẩm của anh đã không được chọn.

—————————— 

Cốt truyện

Metroid và Metroid : Zero Mission (1986/2004)

Samus di chuyển qua những hang động của hành tinh Zebes để ngăn chặn Space Pirates , không cho chúng khai thác những sinh vật Metroid cho mục đích thống trị ngân hà . Cô ấy đã đối đầu với Mother Brain, những người bảo vệ, Kraid và Ridley. Trong bản remake Metroid : Zero Mission năm 2004, câu chuyện kể rằng cô bị Space Pirates mai phục sau khi đánh bại Mother Brain. Tuy kịp trốn khỏi Zebes nhưng tàu của cô ấy đã bị va chạm mạnh khi tiếp đất. Bộ trang phục đầy sức mạnh bị mất, nên cô ấy quyết định xâm nhập vào phi thuyền mẹ của Space Pirate để tìm đường trở về hành tinh, với chỉ có 1 thanh năng lượng bảo vệ. Sau khi nhận lại được bộ trang phục đầy quyền lực từ sâu bên trong lãnh địa Chozo, cô ấy đã đánh bại Meta Ridley và tẩu thóat khỏi phi thuyền mẹ trước khi nó tự phá hủy.

 


Metroid
Metroid – Zero Mision

Metroid II: Return of Samus (1991)

Tiếp theo những sự kiện trước, Galactic Federation nghĩ rằng những sinh vật Metroid quá nguy hiểm để tồn tại. Họ đã quyết định thuê Samus đi đến hành tinh Metroid – SR388- để tiêu diệt hết những sinh vật Metroid còn lại này. Sau khi tiêu diệt hết Metroid, Samus tìm thấy 1 quả trứng chưa nở. Khi cô ấy chuẩn bị tiêu diệt nó thì ấu trùng Metroid lại nở ra và quyết định xem Samus như là mẹ của nó. Cô ấy đã mang nó trở về phi thuyền và từ đó bắt tay vào nghiên cứu GF.

 

Super Metroid (1994)

Samus nhận được tín hiệu cầu cứu từ phòng thí nghiệm, nơi cô ấy dùng để nghiên cứu ấu trùng Metroid . Cô ấy trở lại và thấy Ridley đang trộm lấy ấu trùng. Samus quyết định theo đuôi Ridley đến căn cứ mới trên Zebes, để ngăn chặn kế họach nhân bản Metroids của Space Pirates. Cô ấy đã tiêu diệt phiên bản tái sinh của Ridley và Kraid, cũng như tiêu diệt luôn những người bảo vệ mới Phantoon và Draygon, để mà đối đầu với Mother Brain lần nữa. Samus xém bị giết trong trận chiến này, nhưng may mắn là bộ áo giáp của cô đã kịp hồi phục lại nhờ ấu trùng Metroid, trước khi Mother Brain kịp giết nó. Samus tiêu diệt thành công Mother Brain, và 1 lần nữa kịp thóat khỏi Zebes trước khi nó phát nổ. Vụ nổ này đã làm cho 1 vài Metroid nhân bản còn sót lại cũng bị tiêu diệt luôn.

Metroid Fusion (2002)

Trong khi làm nhiệm vụ bảo vệ cho những nhà khoa học ở hành tinh SR388, Samus đã vô tình bị nhiễm độc của 1 sinh vật tên là X Parasite. Các bác sĩ đã phẩu thuật tách rời các bộ phận của bộ áo giáp , và điều trị với vaccine được tạo ra từ DNA của Metroid. Thứ vaccin này không chỉ cho phép cô giữ con kí sinh lại mà còn có thể sử dụng năng lượng sống của nó để hỗ trợ.Cô ấy sau đó đã được đưa đến nhiều trạm nghiên cứu để cho các nhà khoa học tìm hiểu về bộ áo giáp bị nhiễm độc này. Người ta phát hiện ra rằng SA-X đã kiểm sóat bộ áo gíap của Samus. Đồng thời nó đã giải phóng những X parasite khác vào những sinh vật khác. Samus sớm nhận ra SA-X đã nhân rộng. Trong khi cố tiêu diệt SA-X, Samus đã phát hiện ra 1 chương trình có thể làm sinh sôi ra những Metroid mới. Thấy được mối hiểm họa, Samus đã quyết định đâm trạm không gian này vào SR388. Sau khi thiết lập tự động Samus đã đối đầu với SA-X. Không thể đánh bại nên SA-X đã bỏ chạy. Cô ấy tiêu diệt Omega Metroid và 1 lần nữa thóat khỏi tay thần chết vì đã may mắn quay về kịp con thuyền, bay đi khỏi trước khi trạm không gian bị phá hủy.

 

Metroid Prime (2002)

Samus nhận được tin báo nguy hiểm từ phi thuyền. Cô ấy quyết định đi đến Tallon IV để ngăn chặn Space Pirates không cho chúng khai thác chất độc phóng xạ vô cùng nguy hiểm của Phazon. Cô ấy phát hiện là Chozo cũng có tồn tại trên hành tinh này,và sự biến mất của chúng cũng như sự phát tán của Phazon là do 1 thiên thạch đã va chạm vào hành tinh này cách đây 10 năm. Sau khi phá hủy căn cứ mỏ của Space Private và thu thập được 12 Artifact của Chozo, Samus đã có thể đi vào miệng núi lửa bị đóng kín. Cô ấy đã đối đầu và gần như tiêu diệt được Metroid Prime, nguồn phát tán Phazon của hành tinh này.

 

Metroid Prime 2: Echoes (2004)

Samus được gởi đến hành tinh Aether để khám phá bí mật tại sao nguyên đội hình GF Marines lại bị mất tích ở đây. Samus đã phát hiện ra xác chết của họ, bị giết bởi hàng lọat sinh vật, chủ yếu là do 1 chủng tộc ma quỉ tên là Ing. May mắn gặp được thành viên cuối cùng còn sót lại Luminoth (những người khác đều bị đóng băng trong buồng ngủ cho đến cuối game), Samus biết được Aether bị chia cắt thành 2 phần như vậy cũng do 1 thiên thạch giống như thiên thạch đã va chạm vào hành tinh Tallon IV gây ra. Samus đã tiêu diệt bọn Ing để cứu hành tinh Aether, và cũng đã đối đầu với Dark Samus – 1 bản sao sống của Samus nhưng được trang bị Varia Suit nhiễm độc Phazon.

Metroid Prime Pinball (2005)

Không liên quan gì đến cốt truyện của seri Metroid nhưng thật sự nó cũng đã kể lại câu chuyện của Metroid Prime nguyên bản dưới dạng pinball. Tuy là game pinball, nhưng người chơi lại có thể thu thập powerups ở chế độ multi, bao gồm cả tên lửa và power bombs. Game lần đầu tiên được đóng gói cùng với Rumble Pak của Nintendo DS.

 

Metroid Prime Hunters (2006)

Câu chuỵên bắt đầu là khi Galactic Federation nhận được 1 tin điện báo bất thường. Họ đã cử Samus đến vùng đất Alimbic xa xôi ở Tetra Galaxy để tìm hiểu về lời đồn đại “Ultimate Power”. Sáu bounty hunters kình địch khác cũng biết được tin này nên đã chấp nhận bảo vệ sức mạnh này khỏi những người khác, bao gồm cả Samus. Thật sự thì lời đồn thổi về Ultimate Power đó đã bị sinh vật tên Gorea nói dối .Sau khi tiêu diệt Gorea, Samus và 6 bounty hunter khác rời khỏi vùng đất này , trắng tay , nhưng tất cả đều sống sót.

 

Metroid Prime 3: Corruption (2007)

Space Pirates đã làm tắt hệ thống máy tính của Galactic Federation, rồi tìm cách mở rộng vùng họat động của Phazon. Phi thuyền lớn mang chất độc Phazon đã va vào nhiều hành tinh rồi sau đó phá hủy chúng với chất độc Phazon. Với tình hình nguy kịch này , Samus đã được lệnh tiêu hủy “Phazon Seeds”, đồng thời cô cũng phải tìm cách phục hồi đầy đủ chức năng lại cho hệ thống máy tính của Galactic Federation. Sau khi thanh lọc 3 hành tinh Phazon (bao gồm cả quê nhà của Space Pirate), Federation đã phát hiện ra được nguồn phát tán Phazon, đó là ở hành tinh Phaaze. Hành tinh này đã bị bao phủ hòan tòan bởi Phazon. Khi Galactic Federation phát động tổng tấn công Space Pirates, Samus đã thâm nhập được sâu vào trong hành tinh và cuối cùng cũng thành công tiêu diệt Dark Samus và Phazon.

 

——————————

Lịch sử phát hành

Metroid

 

Metroid nguyên bản được phát hành cho hệ thống đĩa Famicom (FDS) vào năm 1986 và Nintendo Entertainment System (NES) năm 1987. Game giới thiệu Samus Aran là nữ, nhưng thật tế trên các trang quảng cáo và hướng dẫn đều lại miêu tả Samus là nam giới.

Đặc điểm của thế giới mê cung trong game là làm cho người chơi phải chọn phương hướng khám phá. Bởi vì thế nên việc hoàn thành game luôn yêu cầu người chơi phải tốn 1 lượng thời gian khá lớn. Một password save system (trên NES) và 1 khe saved- game (trên FDS) đã ra đời để giúp người chơi có thể tạm ngưng và tiếp tục dễ dàng ở lần sau. Metroid là 1 trong những game đầu tiên có được sự hỗ trợ đó. Metroid được xem là game phổ biến nhất ngay từ thế hệ NES.

Metroid II: Return of Samus

 

Phiên bản tiếp theo, Metroid II: Return of Samus, được phát hành năm 1991 cho hệ máy Game Boy. Không giống Metroid, mục đích của game không phải là thu nhặt items.Game yêu cầu người chơi xác định và tiêu diệt những con Metroid. Metroid II đã đưa ra 1 số vũ khí và item mới, đồng thời cũng làm sáng tỏ 1 số thông tin về Chozo và Metroids. Mặc dù ban đầu game nhận được những đánh giá khá lạc quan, nhưng thật chất game vẫn chưa thể vượt qua được sự thành công của phiên bản trước. Sử dụng màn hình xám và hệ thống gameplay tương đối tuyến tính, tuy nhiên game vẫn không bằng Metroid Fusion sau này. Game còn chơi được trên cả Game Boy Color, Game Boy Advance và Super Game Boy.

Super Metroid

 

Super Metroid được phát hành cho Super Nintendo Entertainment System (SNES) năm 1994. Game trở lại với lối gameplay quen thuộc ban đầu, tuy nhiên mở rộng thêm nhiều loại vũ khí mới cho Samus. Super Metroid cũng sử dụng phông nền là hành tinh từng xuất hiện trong game lúc đó, nhưng với những tiến bộ của SNES (dùng băng cartridge 24 megabit) nên môi trường hoạt động cũng rộng lớn và thay đổi nhiều hơn. Game được thiết kế chi tiết hơn so với 2 bản game trước. Super Metroid là 1 trong những game biết đến nhiều nhất trên SNES , nhận được nhiều sự tán thưởng về đồ hoạ, âm thanh và dung lượng. Nó nổi tiếng và thường chiếm vị trí top trong những bản xếp hạng “game hay nhất mọi thời đại”. Game cũng chiếm vị trí số 1 của Electronic Gaming Monthly. Trò chơi luôn được xem là game chủ bài để đánh bại các đối thủ khác.

Giai đoạn tạm dừng phát triển

Sau khi phát hành Super Metroid, game đã vắng mặt 10 năm trên các hệ máy console của Nintendo . Gunpei Yokoi đã có ý định chọn Super Metroid để kết thúc dòng game này. Có nhiều tin đồn cho rằng game sẽ xuất hiện trên Nintendo 64, nhưng Nintendo đã phủ định điều đó. Nhiều fan hâm mộ lo lắng rằng seri Metroid sẽ không còn nữa.

Sự trở lại

Metroid Prime và Metroid Fusion

 

Năm 2000, Nintendo tuyên bố rằng Retro Studios -1 hãng phát triển game của Mĩ ở Autin,Texas – đang phát triển game Metroid mới cho Nintendo GameCube. Nintendo cũng tuyên bố là hãng đang bắt tay vào dự án Metroid IV cho Game Boy Advance. Cả 2 game đều được phát hành năm 2002, trong đó sản phẩm của Retro Studio được đặt tên là Metroid Prime còn Metroid IV được đặt lại là Metroid Fusion. Prime là game Metroid đầu tiên có nền đồ họa 3d. Game thuộc thể lọai phiêu lưu góc nhìn thứ nhất. Còn Fusion thì diễn ra vài năm sau khi Super Metroid kết thúc. Phát hành cùng lúc, cả 2 game đều có những bonus hỗ trợ cho nhau: Nếu người chơi đánh bại Metroid Prime thì có thể sử dụng bộ trang phục Fusion cho Samus khi chơi lại, còn người chơi đánh bại Fusion thì unlock được Metroid nguyên bản để chơi thêm.Khi phát hành, hầu hết các nhà báo và fan hâm mộ đều nhận thấy theme, gameplay của Prime có sự đột phá. Game đã luôn được đánh giá cao, mặc dù cũng có nhiều phê bình chỉ trích. Bên cạnh đó Metroid Fusion cũng được nhiều nhận xét lạc quan nhưng lối kể chuyện, những đọan cắt cảnh và hệ thống hướng dẫn lại bị phàn nàn nhiều vì đã làm giảm đi tính khám phá của game cũng như bắt nhân vật phải đi theo lối chơi mà game đã đặt ra. Game cũng làm sáng tỏ được 1 phần nhân vật Samus.

Official Website

 


 

Metroid: Zero Mission

 

Metroid: Zero Mission là 1 bản remake của Metroid nguyên bản (từng thành công trên NES). Game được phát triển lại và phát hành năm 2004. Nó giới thiệu những con boss và những khu vực mới, cũng như cốt truyện nhiều tình tiết xen lẫn những đọan phim cắt cảnh. Zero Mission cũng cho phép người chơi unlock Metroid nguyên bản như 1 bonus. Game sử dụng hệ thống save tiên tiến hơn. Đồng thời người chơi cũng có thể unlock được 1 kho ảnh lớn từ Metroid Fusion. Game đã nhận được nhiều lời khen tuy nhiên khó mà tránh được lời phàn nàn, 1 trong số đó là từ IGN: “Game có cốt truyện ngắn, chỉ cần 5 giờ để hòan thành”.

Metroid Prime 2: Echoes

 

Metroid Prime 2 : Echoes là phiên bản cho GameCube phát hành năm 2004. Cũng như người tiền nhiệm Metroid Prime, nó được phát hành bởi Retro Studios. Nó là game phiêu lưu góc nhìn thứ nhất có phong cách tương tự như Prime. Nhưng có 1sự khác biệt mới: sự pha trộn của thế giới trắng đen, 1 cái gì đó tương tự như The Legend of Zelda: A Link to the Past. “Echoes” nhận được nhiều tán thưởng vì là game Metroid đầu tiên cho phép 4 người chơi chiến đấu với nhau qua hệ thống multiplayer với deathmath-style.

Metroid Prime Pinball

 

Game được phát hành lần đầu tiên tại thị trường Mỹ vào ngày 24/10/2005. Đây là game đầu tiên theo thể loại pinball. Đây là một sự phá cách mới lạ của một dòng game bắn súng. Game phù hợp với mục đích giải trí đơn thuần.

Metroid Prime Hunters

 

Năm 2006, hệ máy Nintendo DS đã được chọn để phát hành Metroid Prime Hunters. Game nhận đươc nhiều sự tán thưởng vì tận dụng hết mọi khả năng của Nintendo DS như màn hình rộng, 3D, di chuyển tự do. Nó sử dụng cả bút stylus để điều khiển và là game Metroid đầu tiên cho phép người chơi dùng internet để chơi multiplayer. Bản multiplayer này còn cho phép người chơi chọn nhiều nhân vật khác ngòai Samus, bao gồm cả cybernatic Space Pirate. Trong khi bản multiplayer được hưởng ứng rộng rãi thì bản single-player lại bị chê trách nhiều bởi Gamespot và những nhà phê bình khác như là “lối chơi tuyến tính và không sáng tạo”.

Metroid Prime 3: Corruption

 

Ngày 28/7/2007, Metroid Prime 3: Corruption đã được phát hành lên hệ máy console Wii. Retro Studios cũng là nhà phát hành game này. Metroid Prime 3 giới thiệu đến người chơi khả năng điều khiển tàu ở 1 số điểm cố định trong game, lợi dụng khả năng di chuyển để tương tác với môi trường. Wii remote được sử dụng để ngắm bắn, Nunchuck để điều khiển Samus đi lại và khả năng grappling trên tay trái của cô ấy. Wii remote cũng điều khiển tay trái để tương tác với những cách điều khiển khác như kéo,đẩy công tắc. Sự phối hợp mới này đã được khen ngợi rất nhiều. Ngòai ra người chơi còn có thể sử dụng những token kiếm được trong game để mua thêm những mục chơi mới.

Metroid Dread

Metroid Dread được công bố lần đầu tiên là vào tháng 6-2005 trên 1 tiêu đề của Game Informer, và đã bị lộ thông tin trên những trang báo điện tử khác. Theo những người điều hành forum thì game thuộc thể lọai 2D, phát hành cho Nintendo DS và câu chuyện của nó là tiếp theo những sự kiện của Metroid Fusion. Ngày 19-9-2005, IGN thông báo rằng Metroid Dread thật sự đang trong giai đọan phát triển, nhưng sẽ được tuyên bố chính thức ở thời điểm tới. Nintendo thậm chí không xác nhận gì về sự tồn tại của game này. Ngày 7-10-2005, website Nintendo-Next thông báo rằng dự án đã bị hủy bỏ, nhưng không tiết lộ nguồn tin của họ.

Ngày 17-2-2006, tờ báo Nintendo ở Anh đã có đề cập đến Metroid Dread trong danh sách phát hành game. Theo đó game được phát hành tháng 11-2006, và được ghi là “TBC” (đã được xác nhận). Tuy nhiên đến ngày 16-3-2006, tạp chí này lại liệt kê nó vào những game mập mờ 2006 và đề nghị chờ đến E3 2006 để có được thông tin rõ hơn. Ngày 23-3-2006, website N-Sider thông báo rằng biên tập viên Craig Harris của IGN đã được hỏi về Metroid Dread, và câu trả lời của anh ấy là còn quá sớm để đưa nó ra ở E3 2005 và nói rằng nó có thể sẽ xuất hiện ở năm sau. Điều này làm mọi người có thêm hi vọng rằng game có khả năng chưa bị hủy bỏ, và có khả năng là Nintendo-Next đã thông báo sai. Game không xuất hiện ở E3 2006, 2007, nhưng thật sự không thể biết là game có bị hủy bỏ chưa.

Matt Casamassina, khi được hỏi về Metroid Dread 24/8/2007, cũng nói rằng nó như “1 bí mật đối với các fan”; mặc dù vậy anh ấy lại nói là không biết gì về việc này để xác nhận chính xác. Và điều đó đã được nói đến trong Metroid Prime 3: Corruption, 1 đọan tin nhắn trong game Metroid Prime 3: Corruption (scan 1 panel bên trong căn phòng “Metroid Processing” của Pirate Homeworld) đã từng tuyên bố: “cập nhât báo cáo: dự án Metroid ‘Dread’ đang ở giai đọan cuối để hòan thành”. Ngày 6/9/2007, Nintendo thông báo họ “không làm game Metroid 2D nào nữa ở giai đọan này”. Vậy là thông tin về game này lại tiếp tục còn bị mập mờ.