DS – DS Lite – DSi – DSi XL

Nintendo DS (đôi khi còn được gọi là NDS hay DS) là một hệ máy chơi game cầm tay được phát triển và sản xuất bởi Nintendo và được phát hành năm 2004 tại Canada, Mĩ và Nhật. Máy có thiết kế gấp đôi lại được, tương tự như máy Game Boy Advance SP, và đi cùng hai màn hình tinh thể lỏng, trong đó có một là màn hình cảm ứng. Máy Nintendo DS còn tích hợp một Micro và kết nối không dây chuẩn IEEE 802.11, cho phép người sử dụng có thể kết nối tới những người chơi khác trong phạm vi gần(10-30m tùy hoàn cảnh), hoặc kết nối trực tuyến nhờ dịch vụ Nintendo Wi-Fi Connection. Đây là hệ máy chơi game cầm tay đầu tiên của Nintendo được phát hành ra ở Bắc Mỹ trước cả Nhật.

Nintendo DS Design

Screen

– Màn hình trên + màn hình dưới = sáng tạo, chính vì thế bạn sẽ cảm thấy thoải mái vô cùng khi tất cả mọi thứ ko còn nhồi nhét vào cái màn hính tí xíu như các hệ máy trước kia đâu. Thật tế cho thấy khi bạn chơi 1 game nhập vai màn hình trên sẽ quản lý các thông số, màn hình dưới “rảnh ghê” cứ thế là “chạm” rùi chiến thui, thoải mái quá phải ko… Tuy chỉ thể hiện vỏn vẹn 260k màu tuy nhiên điều ấy còn phụ thuộc vào game đó mà ^^, Nintendo luôn mang lại những game có đồ họa màu sắc thật tuyệt vời…

-DS có một màn hình cảm ứng nhạy cảm với các áp lực, được thiết kế tiếp nhận dễ dàng bút cảm ứng đi kèm, ngón tay người, hay một đầu thoi nhựa. Màn hình cảm ứng cho phép người chơi tương tác với các vật dụng trong trò chơi một cách dễ dàng trực quan hơn là dùng các nút bấm. Ví dụ như trong Trauma Center: Under the Knife, cây bút cảm ứng có thể thay thế cho con dao mổ trong các khâu phẫu thuật; hoặc trong phần mềm chat PictoChat, bút cảm ứng được dùng để viết thư hoặc vẽ.

– Ngoài “Stylus” ra Nintendo DS còn được tặng 1 món phụ kiện “độc đáo” dành cho máy để tạo sự đa dạng phong phú hơn cho gameplay, chính là sợi dây cảm ứng kia, bạn tự hỏi nó sẽ giúp ích gì chăng ? Câu trả lời là nó sẽ được “cuộn” lại trong ngón tay cái “thuận” của bạn, như khi game Metroid bắn bằng Stylus, nhất định có lúc cũng cảm thấy khó chịu nhưng khi dùng sợi dây này, có thể nói nó sẽ biến thành 1 chú “Mouse” đúng nghĩa, đôi khi vài game rất tiện lợi khi dùng để di chuyển nhân vật, ví dụ Mario 64 đó nhớ ko >,< (đây là dây “độc quyền” của DS mà người em “Lite” ko có được, tự hào quá ta)

Controllers

– Nút điều khiển truyền thống nằm hai bên màn hình cảm ứng. Phía bên trái là bàn phím di chuyển (D-pad), bên phải là các nút A, B, X, Y cùng với các nút Start và Select ngay bên trên chúng. Hai nút L+R nằm ở trên cùng máy. Nút bấm làm chúng ta liên tưởng đến kỷ niệm trên máy SNES yêu dấu năm xưa thật thân quen đầy hồi ức…

Audio

– Máy DS còn được trang bị loa stereo mang đến âm thanh nổi ảo(virtual surround sound), trang bị tại màn hình trên. Và đây là hệ máy chơi game cầm tay đầu tiên của Nintendo có loa stereo vì các hệ máy trước chỉ cho phép nhạc stereo qua headphone hoặc loa ngoài.

– Khi âm thanh thể hiện rõ ràng trên 2 chiếc loa bé nhỏ kia tưởng chừng như “tí hon” nhưng bạn sẽ cảm nhận rõ ràng ra là chưa bao giờ hệ máy cầm tay âm thanh lại hay “ngọt ngào” đến thế, những giai điệu quen thuộc được hòa lẫn vào cảm xúc đan xen thật có tả…

Microphone

– Một micro được tích hợp ở phía dưới bên trái màn hình. Nó phục vụ cho nhiều mục đích, kể cả việc nhận dạng tiếng nói(game Nintendogs), chat giữa những người chơi(Metroid Prime Hunters, nhưng không vừa chơi vừa chat được), và những game mini yêu cầu người chơi phải thổi hoặc vỗ nhẹ vào micro (Feel the Magic: XY/XX, WarioWare: Touched!,…)
– Mình đã từng trải nghiệm qua khi tham gia offline N-Club, cái cảm giác được dùng chiếc máy mình yêu thương “chat” qua microphone tạo cho ta gắn bó hơn với DS nhiều hơn. Khi chơi game bạn thấy rằng là “vô cùng thật” nhạy bén từng làn gió “nhè nhẹ” điều đó cho thấy microphone “vô cùng nhạy cảm”

Technical specifications

Trọng lượng : 275 grams (9.7 ounces).
Kích cỡ : 148.7 x 84.7 x 28.9 mm (5.85 x 3.33 x 1.13 inches).
Màn hình : hai màn hình tinh thể lỏng TFT 3 inch, độ phân giải 256 x 192 pixels, kích thước 62 x 46 mm and 77 mm đường chéo. Xin lưu ý rằng khoảng cách giữa hai màn hình là 21 mm, tương đương với 92 dòng “ẩn”. Màn hình dưới của DS là một màn hình cảm ứng nhạy cảm với các áp lực, cho phép tiếp nhận áp lực từ một điểm đến màn hình, làm cân bằng tiếp xúc nhiều điểm nếu cần thiết. (2 màn hình đều thể hiện 260k màu)
CPU : Hai khiển RAM, một CPU ARM946E-S chính và một CPU ARM7TDMI tích hợp với cường độ làm việc chính xác là 67 MHz và 33 MHz.
RAM : 4MB RAM di động.
Nguồn điện : Yêu cầu 1.65 volts.
Bộ nhớ : 256 KB Serial Flash Memory.

– Tích hợp kết nối không dây chuẩn 802.11b(WiFi Built-in 802.11b Wireless Network Connection)

– Hệ thống 3 chiều của máy thực hiện các hiệu ứng trong game như : transform and lighting, texture-coordinate transformation, texture mapping, alpha blending, anti-aliasing, cel shading và z-buffering. Tuy nhiên, nó lại dùng hiệu ứng phủ màu cho điểm lân cận(point (nearest neighbor) texture filtering), khiến một số nền trong game trở nên xấu xí. Theo lí thuyết, hệ thống máy có thể họa nên khoảng 120.000 tam giác trên một giây với tốc độ 60 khung hình một giây(60 frames per second(FPS)).

– Hệ thống máy có hai engine 2D, mỗi engine cho một màn hình. Chúng cũng tương tự như(nhưng mạnh mẽ hơn) engine 2D ở máy Game Boy Advance. Tuy nhiên nhân engine lại được chia ra thành nhân chính và nhân phụ. Chỉ có nhân chính mới có thể họa nền 3D. Nó còn có bộ nhớ 656 kilobytes.

– Mở chiếc máy ra, mở 1 khung trời “huyền ảo” hòa nhập vào game với cảm giác quen thuộc trên GBA sp tiếng “cạch” phát ra từ “khớp” chốt máy, tuy cầm trên tay khá nặng nhưng khi chơi chúng ta dùng tới 2 tay cầm máy mà, có 1 mem nói với Kawaii là: “cầm DS nặng nặng thấy phê rùi thấy cái mày giá trị hơn chứ hổng có “ốm nhom” như mấy cái kia đâu >,<”

Game Card

– Game được đặt trong một băng game cắm vào một cái thẻ nhớ tương tự thẻ nhớ của máy chụp ảnh kĩ thuật số. Băng game hiện giờ tương thích với các loại thẻ nhớ có dung lượng đến 2GB. Băng game luôn có một lượng nhỏ bộ nhớ trong và một EEPROM để save game. Kích thước băng game là 33.0 × 35.0 × 3.8 mm(bằng và dày khoảng một nửa so với băng game của Game Boy Advance) và nặng 3.5 g (1/8 ounces).

– Dựa vào lời của người phát triển game MechAssault: Phantom War trên IGN thì những game card có dung lượng lớn(như 128MB) sẽ có tốc độ truyền dữ liệu chậm hơn so với các game card thông thường(64MB). Tuy nhiên tốc độ chính xác không được nói đến. Nhân của hệ thống game card là Nitro, nguyên gốc của chữ NTR trong số serial number được viết trên mặt sau của game card. NTR-XXX chỉ ra số model tìm thấy trên máy DS gốc và phụ kiện của nó.

– Tuy Game Card đối với dân VN còn khá “cắt cổ”, với số tiền đó thật sứng đáng để đổi lại những game thật hay có giá trị sưu tầm, Game Card sẽ ko còn lo sợ bị mất save như trên GBA nữa, chính vì nó save bằng IC trong hệ thống chip ^^ (GBA thì save bằng pin)

– Có lẽ DS là “Thánh Địa” lý tưởng khi mà hàng loạt game đỉnh của những hệ máy cũ năm xưa lần lượt “tái xuất giang hồ” mang đến nhiều thành công nhất định như Mario 64 hay Final Fantasy 3, bên cạnh đó xuất hiện hàng loạt tựa game “sáng giá” + “sáng tạo” với những ngôi sao và tượng đài lớn của đại gia Nintendo như Pokemon, Zelda, Mario cứ sống mãi trong lòng người hâm mộ…

Battery

– Máy Nintendo DS sử dụng một pin sạc lithium-ion. Cứ một giờ sạc mang lại khoảng 10 giờ chơi. Dung lượng pin bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như loa, việc sử dụng một hay cả hai màn hình, đèn màn hình, và kết nối mạng. Nguyên nhân chính là đèn màn hình, có thể tắt đi khi truy cập menu chính, ở một số game nhất định (như Super Mario 64 DS).

– Pin đã được thiết kế để chỉ có thể gỡ ra khi đã hết hạn và cần thay. Nó có thể được gỡ ra bởi tuốc-nơ-vít Phillips. Gỡ pin ra sẽ khiến máy DS bắt buộc bạn phải nhập lại toàn bộ thông tin về người sử dụng lẫn các cài đặt. Việc này không ảnh hưởng tới các save game trên game card và băng Game Boy Advance.

– Để kéo dài thời gian sử dụng pin khi đang chơi game, người chơi có thể gập máy để máy rơi vào trạng thái “sleep” và dừng game. Máy có thể sleep cả vài trăm giờ mà không tiêu tốn chút pin nào. Tuy nhiên, gập máy lại khi đang chơi một game của Game Boy Advance sẽ không đưa máy vào trạng thái sleep, game vẫn sẽ chạy tiếp cùng với đèn màn hình. Một số game nhất định (như Animal Crossing: Wild World) cũng sẽ không tắt trừ đèn màn hình, màn hình, và loa. Khi đang save game Pokémon Diamond và Pokémon Pearl và Zoo Tycoon DS, máy sẽ không sleep…

Features

Nintendo Wi-Fi Connection

– Nintendo Wi-Fi Connection là một dịch vụ chơi game trực tuyến không dây miễn phí được thiết lập bởi Nintendo. Người chơi với máy DS và Wii thích hợp có thể kết nối tới dịch vụ này thông qua một mạng kết nối không dây. Dịch vụ này được thiết lập tại Bắc Mỹ vào ngày 14 tháng 11 năm 2005 với sự phát hành của Mario Kart DS và Tony Hawk’s American Sk8land. Một giao diện duyệt web, Nintendo Web Browser, đã được ra mắt cho phép việc duyệt web trên máy.

Download play

– Với những tựa game nhất định như Mario Kart DS, New Super Mario Bros., và Meteos, người chơi có thể chơi những game nhiều người với người chơi DS khác mà chỉ sử dụng một game card. Người chơi phải để máy của họ ở trong tầm mạng không dây(lên đến 100feet). Các hệ máy “khách” có thể download dữ liệu từ máy chủ qua việc lựa chọn cài đặt DS Download Play option.
– Nhiều cửa hàng bán lẻ game DS có trạm DS Download Stations cho phép người chơi download các đoạn demo và phim game DS và Wii. Tuy nhiên, vì lí do giới hạn bộ nhớ nên những file download bị xóa đi ngay khi máy bị tắt.

Compatibility

– Máy Nintendo DS chơi được băng game Game Boy Advance(slot 2), card DS(slot 1), không chơi được game Game Boy Color và Game Boy vì máy không sử dụng nhân tương tự Zilog Z80 trên các hệ máy kia.

– Máy không có lỗ cắm cho dây nối Game Boy Advance Link Cable, nên kiểu kết nối GameCube-Game Boy Advance không thích hợp với máy.

– Máy Nintendo DS chỉ sử dụng một màn hình khi chơi game Game Boy Advance. Người chơi có thể chọn lựa màn hình nào để chơi. Màn hình máy khi chơi game Game Boy Advance có một khung đen vì sự khác biệt chút xíu giữa kích thước giữa hai màn hình.

– Việc cắm hai băng DS và Game Boy Advance có thể mang lại việc mở một số đặc trưng trong game ở một số game nhất định, điển hình là Pokémon Diamond và Pearl. Slot 2 còn có thể cắm Rumble Pak và băng game mở rộng bộ nhớ DS(Nintendo DS Memory Expansion Pak), cho phép mở rộng thêm bộ nhớ cho Nintendo DS Browser được 10MB.

Pictochat

– DS “nguyên vẹn” kèm theo 1 phần mềm Pictochat thích hợp dùng cho việc tán ngẫu “chít” bao gồm 1 bàn phím “cảm ứng” và bạn có thể chat cùng 1 lúc với 16 người ở 1 phòng bất kỳ

– Setting gồm có lịch vạn niên, đồng hồ, chuông báo thức, hiển thị tên cùng các chức năng chỉnh giao diện cho game GBA, đổi màu theme nền DS, chọn ngôn ngữ (English, Japanese, Spanish, French, German, Italian)…

Tổng kết

– Tính đến nay DS đã bán đến 14 triệu máy trên toàn thế giới (ko tính DS Lite), 1 con số “thèm khát” của các hãng game khác, điều đó cho thấy DS hiện nay đang có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với đời sống con người, bởi DS giúp ích nhiều cho cuộc sống của họ, giáo dục nhân bản cao, sự lựa chọn sáng giá cho việc giải trí cũng như học tập tốt, phụ huynh thường khuyến khích con em mình mua DS cho sự “trưởng thành” mau chóng của trẻ thơ >,<

– Ở VN dân chơi game gọi chiếc máy này với cái tên siêu cute là “DSờ” và “DSài” (=DS)^^, giá thành khá rẻ nên điều kiện tiếp xúc với chiếc máy là hoàn toàn nằm trong túi tiền của trẻ con lẫn người lớn (1 triệu 8).

– Ôm lại kỷ niệm xưa qua những game trên Nes, Snes, N64, nhất là GBA khi mà chiếc máy này dần trôi dạt vào quá khứ theo đàn anh của mình, những ngôi sao, tượng đài của hãng Nintendo lần lượt “thay da đổi thịt” để hoà mình và “đứa kon kưng” này, qua loạt game bạn từng trải nghiệm qua, hãy chờ xem Nintendo còn làm gì nữa đi nào…

Ưu điểm

– 2 màn hình tinh thể lỏng khá đẹp, ánh sáng hỗ trợ tốt vừa đủ, tích hợp game trên hệ máy GBA, hỗ trợ nhiều homebrew mới lạ hấp dẫn, Multi Media đa chức năng, âm thanh loa tốt khi nghe nhạc cũng như video clip, thể hiện tốt khi những game có dung lượng cao (1 phần cũng do nhà soạn nhạc thuộc hãng phát triển game)

– Kết nối Wi-Fi chơi online Multi ko còn cảm giác “cô đơn” nữa. Toàn thế giới gói nhẹ lại trong lòng bàn tay chính là Nintendo DS…

Nhược điểm

– Kích cỡ khá to và nặng , màn hình chỉ thể hiện được 260k màu (ra nắng là bó chíu). Cấu hình thấp, gồ gề khi bỏ vào túi (điểm yếu lớn của 1 thiết bị di động)

– Các tựa game “chặt chém” và “bắn giết” đã tay rất hiếm, chỉ toàn game nhẹ nhàng dễ chơi (đôi lúc tạo sự nhàm chán)

Ý tưởng phát triển

– Vào ngày 13 tháng 11 năm 2003, Nintendo thông báo rằng sẽ cho ra đời một hệ máy chơi game mới vào năm 2004. Nintendo nói rằng nó sẽ là một hệ máy thành công hơn so với Nintendo GameCube hay Game Boy Advance SP, và đồng thời sẽ trở thành một “trụ cột thứ ba” vững chắc.

– Vào ngày 20 tháng 01 năm 2004, hệ máy này đã được thông báo tên là “Nintendo DS”. Nintendo tiết lộ rất ít thông tin vào lúc ấy, chỉ nói rằng hệ máy này sẽ có hai màn hình tinh thể lỏng TFT 3 inch riêng biệt, các nhân hoạt động riêng rẽ, và hơn 1GB bộ nhớ bán dẫn. Chủ tịch của Nintendo, Satoru Iwata nói rằng : “Chúng tôi đã phát triển Nintendo DS dựa trên những tiêu chuẩn hoàn toàn khác biệt so với những thiết bị chơi game hiện nay để mang đến cho người chơi cảm giác chơi game tuyệt vời mới mẻ của thế kỉ 21.”

– Vào tháng ba, tên mã đã được đổi sang “Nitro” và một tài liệu chứa đựng hầu hết các đặc điểm kĩ thuật của máy đã bị “rò rỉ” ra ngoài. Vào tháng 5, tên mã đã được đổi lại thành “Nintendo DS”(DS với ý nghĩa “màn hình đôi”) và hệ máy đã được trình chiếu ở dạng nguyên bản tại hội chợ E3. Tất cả các đặc điểm của máy đã được công bố tại E3. Vào ngày 28 tháng 07 năm 2004, Nintendo đưa ra một kiểu dáng thiết kế mới, được mô tả là “bóng bẩy và thanh lịch” hơn mẫu mã đã được trình chiếu tại E3. Tên mã “Nintendo DS” đã chính thức trở thành tên máy kể từ ngày đó. Nintendo đã phải chịu đựng một loạt chỉ trích rằng hệ máy mới này trông tương tự như máy chơi game đầu tiên của Nintendo, Game & Watch, đặc biệt là kiểu dáng nhiều màn hình tương tự như máy game Donkey Kong.

– Vào ngày 20 tháng 09 năm 2004, Nintendo thông báo rằng máy Nintendo DS sẽ được phát hành tại Bắc Mỹ vào ngày 21 tháng 11 năm 2004 với giá $149.99. Nó được dự kiến sẽ phát hành vào ngày 2 tháng 12 năm 2004 tại Nhật và góc bán hàng đầu tiên tại Châu Âu và Úc. Hệ máy này đã được phát hành vào một dịp event đêm tại Universal CityWalk EB Games ở Los Angeles, California. Hệ máy đã được phát hành ở Nhật khá lặng lẽ so với ở Bắc Mỹ, vì lí do thời tiết lạnh giá. Vào tháng 1 năm 2005, ngày phát hành ở Úc là 24 tháng 02 năm 2005 và ở Châu Âu là ngày 11 tháng 03 năm 2005 đã được công bố. Điểm cho sự kiện phát hành ở Châu Âu, chủ tịch Nintendo Satoru Iwata đã phát biểu :
“Châu Âu là một thị trường cực kì quan trọng của Nintendo, và chúng tôi hài lòng vì đã có được chỉ một thời gian ngắn giữa hai lần phát hành tại Mĩ và Châu Âu. Chúng tôi tin tưởng rằng Nintendo DS sẽ thay đổi cách người ta chơi game và nhiệm vụ còn lại của chúng tôi là khai mở thêm những cảm giác chơi game mới mẻ hơn. Nintendo DS phục vụ cho nhu cầu của toàn thể game thủ không cần biết họ là những người tìm kiếm những thử thách thực sự, hay là những game thủ thích sự giải trí muốn nhanh chóng, nhẹ nhàng tìm thấy niềm vui.”

___________________________________________________

DS Lite

null

– Nintendo DS Lite là một hệ máy handheld game console được phát triển và sản xuất bởi Nintendo. Đây là một phiên bản thiết kế mới thanh lịch hơn, hiển thị sáng hơn, và nhẹ nhàng hơn của Nintendo DS, với tính thẩm mỹ cao và hình mẫu khối lấy từ Game Boy Advance SP, nhằm mục đích hấp dẫn người tiêu dùng. Hệ máy được thông báo toàn diện vào ngày 26 tháng 1 năm 2006, một tháng trước khi ra mắt tại Nhật là ngày 2 tháng 3 năm 2006, vì có quá nhiều đòi hỏi được đặt ra cho Nintendo DS. Hệ máy đã được phát hành tại Nhật, Úc, Bắc Mĩ, Châu Âu, New Zealand, Singapore, một số nước Nam Mĩ, Đông Âu và Hàn Quốc. Cho đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, doanh số của DS Lite đã đạt được 45,97 triệu máy trên toàn cầu.

– DS Lite là phiên bản “hoàn thiện hơn” của DS với rất nhiều cải tiến về toàn diện máy, thể hiện đẳng cấp của một công ty danh tiếng với những đứa con tinh thần của mình và đang là cơn sốt của game thủ trên toàn Thế Giới. DS đã xuất hiện khá lâu, mang đến những thành công nhất định trên cuộc chiến handheld, tại sao Nintendo lại muốn cải tiến ? Đơn giản là họ muốn ban tặng cho fan và hướng đến những đối tượng về tính thẩm mỹ nhiều hơn, toàn diện về ngoại tiết bên ngoài lẫn chi tiết bên trong đều thật sự hợp lý tuyệt vời, đây cũng chính là chiến thuật của “Chàng Nấm Nintendo” tung ra để hạ đo ván các đối thủ như họ đã từng làm trên hệ máy đầy kỹ niệm, GBA !

null

– DS Lite được thiết kế thu nhỏ hơn 40% kích thước so với phiên bản DS nguyên mẫu, điều này dẫn đến việc màn hình của DS Lite cũng được rút gọn lại một ít và việc phân bố các thiết bị trên DS Lite như loa, headphone, nút tắt máy cũng thay đổi khác hẳn so với DS gốc. Tiếp theo đó, điểm cải tiến đáng quan tâm nhất chính là chế độ ánh sáng màn hình và màu sắc của DS Lite được thiết kế lại rất đẹp và có thể tùy chỉnh ánh sáng theo 4 cấp độ khác nhau cực đẹp.

– Nếu có dịp được chơi máy DS Lite rồi, bạn sẽ thấy thiếu thiếu một cái gì đó khi chơi lại DS gốc. DS Lite hơn hẳn người đàn anh của mình ở cả mặt năng lượng, với cải tiến quan trọng DS Lite có khả năng sạc pin nhanh hơn và chơi lâu hơn hẳn DS cũ.

null

DS Fat & DS Lite

– Trọng lượng: 218 g / 7.69 oz (nhẹ hơn DS 21%).
– Kích thước: 133 mm × 73.9 mm × 21.5 mm (so với 148.7 mm × 84.7 mm × 28.9 mm của DS thì là nhỏ hơn 42%). Tính đơn vị in, DS Lite có kích thước 5.24 in × 2.9 in × 0.85 in.

null

– Dung lượng pin dài hơn DS. Sau ba giờ sạc, pin DS Lite dùng được 14 đến 19 giờ với độ sáng yếu nhất; 5 đến 8 giờ với độ sáng cao nhất (có thể phụ thuộc vào game). Sau 500 lần sạc, dung lượng pin có thể giảm bớt đi. DS sử dụng một pin 850mAh, trong khi DS Lite sử dụng một pin 1000mAh.

null

– Màn hình LCD sáng hơn (cả trên lẫn dưới), với bốn độ sáng khác nhau. Màn hình bền hơn, được thiết kết chống va chạm mạnh.

– Bút cảm ứng lớn hơn, giúp việc cầm nắm được dễ dàng hơn(kích thước dài 87.5 mm × 4.9 mm so với 75.0 mm × 4.0 mm của DS). Bút cảm ứng giờ đây nằm trong một lỗ ngang cạnh nút tắt/mở, dễ sử dụng hơn.

null

– Có khả năng nhận sóng Wi-Fi từ những hệ máy Nintendo DS/DS Lite, Nintendo Wii và điểm truy cập Wi-Fi. Support mạng WEP mã hóa và không mã hóa. Không support mã WPA.

null

– Tại Nhật, chiếc dây đã không còn có một đầu cảm ứng ngón cái; ở Bắc Mĩ, Úc và Châu Âu, thì sợi dây đã không còn đi kèm với DS Lite, nhưng hệ máy vẫn còn một lỗ trống để gắn dây.

null

– D-pad đã giảm xuống còn 18.6 mm bề ngang(nhỏ hơn DS 16%), nhưng các nút A, B, X, Y vẫn giữ nguyên kích thước. Trên D-pad có các dòng kẻ, một kiểu thiết kế xuất hiện trên Wii Remote và Game Boy Micro.
– Các kiểu cổng ngoài mới, khiến hệ máy trở nên không thích hợp với các phụ kiện dành cho cổng Game Boy Advance và slot 2. Cổng kết nối mới chỉ dành cho dây nguồn adapter.
– Nút tắt/mở giờ đây trở thành một nút gạt và nằm ở cạnh phải hệ máy.
– Thiết kế mới của hệ máy đã khiến các băng game Game Boy Advance thừa ra ngoài khe cắm 1 cm. Thêm vào đó, để hệ máy có được một lớp vỏ liền mạch, không bám bụi bẩn và kẹt các vật lạ trong khe, một băng cắm dành riêng cho slot 2 cần phải
có.
– Các chip xử lí vẫn tương tự như DS, nhưng lại được thiết kế đặc biệt để hao tốn ít năng lượng hơn.
– Microphone tích hợp giờ đây nằm giữa hai màn hình trên dưới của DS Lite.

null

___________________________________________________

DSi

Lần này, Nintendo mang lại khá nhiều cải tiến cho phần cứng của máy chơi game cầm tay DS (Dual-screen), và có thể gọi đây là thế hệ thứ 3 của dòng máy này.“Nintendo DS !” sẽ là câu trả lời, nếu bạn được hỏi rằng mình thích nhất máy chơi game cầm tay loại nào nhất ! Điều này cũng được chứng minh bởi hơn 100 triệu máy Nintendo DS được bán sạch veo, kể từ khi xuất hiện lần đầu tiên cho đến nay. Nintendo hoàn toàn có thể đặt tay sau gáy, mà nhìn ngắm doanh số của mình trên thị trường máy chơi game cầm tay một cách thông thả, bởi họ biết chắc rằng họ đang có một vị thế an toàn.

Tuy vậy, đó không phải là cách mà Nintendo tự mãn nguyện, họ vẫn tiếp tục có những phiên bản nâng cấp đáng giá cho sản phẩm của mình. Như đã làm với dòng sản phảm “Game Boy”, tất cả chỉ nhầm mang đến cho khách hàng nhưng gì họ muốn có, hoặc hơn cả nhưng gì họ mong đợi.

Chính vì thế, chúng ta đã nhìn thấy sự ra đời của Nintendo DSi, “cục cưng” mới nhất của Nintendo, mang trên mình những nét quyến rũ từ phiên bản trước đó, cùng với những nâng cấp đáng chú ý và sự cải tiến về tổng thể. Và, một câu hỏi bao giờ cũng được đặt ra cho một sản phẩm nâng cấp từ nền tảng cũ, đó là: “Liệu rằng sản phẩn này có thực sự đáng giá để chúng ta chi tiêu mạnh tay, nhầm có được những nâng cấp mới ấy hay không ?

.: Nintendo DSi từ “cái nhìn đầu tiên” :.

Nếu bạn cầm trên tay chiếc DSi và DS Lite, thì bạn sẽ thấy rằng chúng chẳng khác nhau là bao. Nhưng nếu tinh ý, bạn dễ nhận ra là DSi mỏng hơn một chút và còn rộng và dài hơn vài centimet nữa. Chỉ với một sự thay đổi nhỏ về ngoại hình như thế, nhưng chứa đựng khá nhiều sự thay đổi bên trong phần cứng.

(Kích thước: 13.7 x 7.49 x 1.89 cm )
Nút bấm được in sắc nét, được tích hợp 2 camera, khe đọc SD-card hỗ trợ thẻ lên đến 32GB, và màn hình được mở rộng thêm 0.25 inch, bộ xử lí (CPU) 133MHz ARM9E (thay cho CPU cũ chỉ có 66MHz), tăng cường thêm 16MB bộ nhớ RAM, phần mặt sau của máy được làm lám nhám, để ngón tay người chơi bám giữ máy tốt hơn, tạo cảm giác chắc chắn không trơn trợt. Đó là những gì mà Nintendo đã nhào nặng trên chiếc DSi của họ. Bạn sẽ nhận thấy rằng “Game Boy Advance” (GBA) sẽ mất phần trên chiếc DSi, nhưng điều này sẽ không làm phiền lòng cho nhưng ai sở hữu chiếc DSi, bởi họ sẽ được đền bù bằng những nâng cấp thật sự ấn tượng hơn.
.: …đến từng chi tiết :.

Sự thay đổi từ CPU 66MHz lên 133MHz ARM9E, dù chỉ là rất nhỏ nhưng vẫn mang lại nhiều hứa hẹn cho những quá trình xử lý cần thiết những game 3D được tốt hơn trên nền phần cứng mới.Với DSi, tất cả đều mới và tốt hơn, giao diện sử dụng hiển thị thành một hàng dài những icon (hầu hết còn vẫn còn là những ô trống), việc điều chỉnh độ sáng của màng hình bằng cách nhấn-giữ “select” và nhấp nút điều chỉnh âm lượng (volume buttom) – có 4 mức chỉnh sáng cho màn hình, có thể khởi động lại máy không cần tắc nguồn (soft-reset).

Nhiều tính năng mới như thế đồng nghĩa với việc tiêu tốn pin hơn so với phiên bản máy DS Lite một chút, thời gian sử dụng sẽ khoảng 6 giờ liên tục khi pin được sặc đầy, ở mức sáng cao nhất của màn hình. Và đây cũng là một khuyết điểm đáng tiếc nhất, nhưng xét cho cùng thì việc sặc pin cũng không đến nỗi quá phức tạp đối với người sử dụng .

Theo “kotaku.com“, thời gian dùng pin của DSi và DS Lite như sau :
(http://kotaku.com/5057883/lets-compa…te-and-the-dsi) .

Nintendo DSi:
Low brightness (8-12 giờ),
Medium brightness (6-9 giờ),
High brightness (4-6 giờ),
Highest brightness(3-4 giờ)

Nintendo DS Lite:
The lowest brightness (15-19 giờ),
Low brightness (10-15 giờ),
High brightness (7-11 giờ),
Highest brightness(5-8 giờ)

Trên Menu chính của Nintendo DSi, có rất nhiều những icon còn trống, điều này cho thấy rằng bạn sẽ có thể mang về những thứ mình cần từ “DSi shop“, thông qua chức năng wireless, với những nội dung vô cùng đa dạng và phong phú, để có thể lấp đầy những chỗ trống ấy. Bạn có thể trao đổi qua lại Nintendo Points giữa chiếc DSi và máy Wii của mình, và tất nhiên nhận được mọi ưu đãi tương ứng khi là một thành viên của “CLUB NINTENDO” (https://club.nintendo.com/) . Ngần ấy thôi, thiết nghĩ cũng đủ bù đấp cho sự vắng mặt của khe cấm GBA trên chiếc DSi rồi !

Dĩ nhiên, có rất nhiều người dùng sẽ mong muốn sử dụng chức năng chụp ảnh trên thiết bị cầm tay của mình, và chiếc DSi đã không làm họ phải thất vọng. Bạn có thể chụp hình của mình hay của người khác bằng 2 chiếc camera được tích hợp sẵn. Với “trình biên tập ảnh”, óc thẩm mỹ của bạn tha hồ nhảy múa với việc thêm vào nhiều hoạ tiết khác nhau tuỳ thích để tấm ảnh của mình thêm sinh động .
Mặc dù hoàn toàn có thể xuất những tác phẩm của bạn ra một thiết bị khác thông qua DS card, nhưng độ phân giải 0.3 megapixel chưa cho phép bạn có thể dùng những hoạ tiết phức tạp ở nơi có ánh sáng yếu, và bạn cần phải ngắm thật kỹ trước khi “bấm máy” để cho một tấm ảnh đẹp ! Suy cho cùng, thì chức năng chụp ảnh không phải là chức năng chuyên biệt của DSi, nên chất lượng ảnh không bằng những thiết bị chuyên dụng khác cũng không phải là điều khó hiểu.Kế đến là “trình âm thanh” (Sound feature) của DSi, đây là một trong những phần khá thú vị. Cho phép bạn ghi âm giọng nói của mình rồi chỉnh sửa sao cho vừa ý nhất với nhiều hiệu ứng âm thanh khác nhau, và lưu vào máy hoặc vào thẻ SD.

Một điều lưu ý, DSi chỉ có thể đọc định dạng AAC (định dạng file nhạc của máy iPod) – ngoài ra, không hỗ trợ các định dạng file khác, kể cả file mp3 .

.: Vài dòng cảm nghĩ riêng về Nintendo DSi:.

Nhìn chung, DSi cũng không quá mới mẻ so với chiếc DS Lite, nhưng nó mang lại nhiều thú vị riêng của mình. Dù rằng, không hỗ trợ tương thích ngược cho GBA, và tồn tại sự giới hạn của một vài chức năng, nhưng bù lại là một “DSi shop” và nền tảng phần cứng mạnh mẻ hơn đầy ấp hứa hẹn, cả việc hỗ trợ bộ nhớ mở rộng thông qua bộ đọc thẻ nhớ SD.

Tuy vậy, để trả lời cho câu hỏi “Liệu rằng chiếc DSi có đáng giá để thay thế cho chiếc DS Lite mà bạn đang dùng ngay lúc này hay không?” , thì với một số tính năng mới ấy vẫn chưa đủ thuyết phục cho một câu trả lời là “Có” , trừ khi bạn có lí do khác .

Dù sao đi nữa, thì chiếc DSi vẫn là một “cuộc cách mạng” đình đám, một sản phẩm tuyệt vời của dòng máy chơi game cầm tay này, điều đó không ai có thể phủ nhận.

Ngày 29 tháng 10 năm 2009, Nintendo đã chính thức giới thiệu phiên bản thứ 4 của dòng máy chơi game cầm tay DS, với tên gọi “DSi LL” (tại thị trường Nhật Bản), hay còn được gọi là “DSi XL” (tại thị trường Mỹ và Châu Âu, sẽ được ra mắt vào quí đầu năm 2010). Không “rình rang kèn trống”, nhưng thế hệ kế tiếp này của hệ máy Nintendo DS đã làm cho những người quan tâm đến thiết bị chơi game cầm tay thật sự bất ngờ về ‘thể hình vạm vỡ’ của chiếc DSi LL/XL.

 

Ấn tượng với kích thước “ngoại cỡ”…

 

Đúng với tên gọi ‘XL/LL’ – kích thức màn hình được nâng lên đáng kể – DSi LL/XL sở hữu màn hình 4.2 inch (TFT tinh thể lỏng 260.000 màu). Và tất nhiên, là cả các số khác đo đều phình ra, cụ thể là:

Chiều rộng: 161.0 mm
Chiều dài: 91.4 mm
Bề dày: 21.2 mm
Khối lượng: 314g

Ngay cả chiều dài của chiếc ‘stylus’ cũng thay đổi, ‘stylus’ cỡ nhỏ có chiều dài chỉ 96.0 mm, và có hẵn 01 ‘stylus’ cỡ lớn dài đến 129.3 mm được thiết kế riêng !
Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng, chiếc ‘stylus’ cỡ lớn mang lại cảm giác cồng kềnh, và không ưa nhìn.


(… so với DSi phiên bản thường)

Với thời lượng pin được cải thiệt so với DSi thường, DSi LL/XL có thể hoạt động từ 04 đến 05 giờ liên tục ở chế độ màn hình sáng tối đa, và 13 đến 17 giờ liên tục ở chế độ màn hình sáng ở mức trung bình). Thời gian sạc đầy cho pin là khoảng 03 giờ (khi pin đã cạn hoàn toàn).Nhìn chung, DSi LL/XL vẫn không có thay đổi gì về những chức năng chính (cả phần mềm và phần cứng), so với DSi phiên bản thường. Vẫn được trang bị: khe đọc băng DS, khe đọc thẻ nhớ SD.

Hiện tại, DSi LL có 3 màu, đó là: màu nâu, màu trắng, và màu đen. Cả 03 màu mang lại cảm giác chắc chắn, và sang trọng.

 

“lớn hơn… thì tốt hơn”

 

Kích thước màn hình là khuyết điểm của dòng máy Nintendo DS luôn được đề cập đến – những chi tiết hiển thị quá nhỏ trên màn hình, sẽ khiến người chơi phải châm chú trong nhiều giờ chơi liên tục có thể gây hại đến mắt. Giờ đây, với 4,2 inchthì vấn đề này được giải quyết một cách tuyệt vời !Từ ngữ được nhắc đi, nhắc lại nhiều lần trong mỗi trang thông tin về DSi LL/XL của Nintendo vẫn là: “to hơn”, “rộng hơn” hay “lớn hơn”… Cho thấy, điểm lôi cuốn nhất của chiếc DSi LL/XL, chính là kích thước !

Màn hình rộng hơn mang lại cảm giác thật sự thoải mái cho người chơi !

Nếu như, chiếc DSi chưa có đủ lí do để khiến bạn muốn thay thế chiếc DS-lite của mình, thì giờ đây bạn đã có thêm lựa chọn nữa, đó chính là “DSi LL/XL“. Điều này được chứng minh, bằng con số cụ thể – tại thị trường Nhật Bản, chỉ sau 2 ngày ra mắt, doanh số bán lẻ của Nintedo DSi LL130.524 chiếc.


Warning: Invalid argument supplied for foreach() in /home/nintendo/domains/nintendovn.com/public_html/wp-content/plugins/facebook-like-and-comment/comments.php on line 21
Go to Top